Thứ Ba, ngày 31 tháng 5 năm 2016

Tính cách dân tộc qua truyện trạng

truyen trang

1.Hệ thống truyện trạng Việt Nam bao gồm các bộ phận truyện Trạng Quỳnh, truyện Xiển Bột, truyện Nguyễn Kinh, truyện Thủ Thiệm, truyện Ông Ó, truyện Khun Hón (dân tộc Thái), truyện Lật Đời (dân tộc Chăm),... Qua nhiều thế hệ, chúng luôn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc (nghe). Sự thông minh, tài trí của các nhân vật trạng do nhân dân bao đời sáng tạo nên, nhằm phản ánh khát vọng về người tài giỏi có thể làm xã hội trở nên công bằng, con người sống trong môi trường lành mạnh, lẽ phải được xiển dương, áp bức bị lên án và đánh bại. Do việc sáng tạo của văn học dân gian mang tính tự phát, tính cộng đồng, không phải bằng sự thông thái kèm ý thức chủ quan và cá tính mạnh mẽ như của các nhà văn, nên có thể tìm thấy mối quan hệ nhất định giữa tính cách của các nhân vật được un đúc, tô bồi, với tính cách của cộng đồng sáng tạo nên các nhân vật ấy. Nói rõ hơn: tính cách của nhân vật trạng có sự tương đồng nhất định với tính cách dân tộc.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn trong bài “Thói nguỵ biện của người Việt”, viết: “Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại (mà chúng ta cho là “thông minh”)giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẻnhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận” (1). Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài “Lạm bàn về thơ Việt hôm nay”, viết: “Đành rằng chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc có ý nghĩa to lớn trong dựng nước và giữ nước. Tuy nhiên trong hàng ngàn, hàng vạn năm không có chiến tranh, trận mạc, lúc đó lòng yêu nước trở thành “viên ngọc quý, được cất giữ trong rương trong hòm”, thì cái mà người Việt vẫn dựa vào để tồn tại vững vàng qua mỗi ngày lại là nhân cách Việt. Đó là tất cả những giá trị giúp con người tồn tại như một nhân cách xứng đáng, trong khuôn khổ cộng đồng Việt, tạm gọi là nhân cách Việt. [...] Theo nghĩa đó, có thể xem truyện Trạng Quỳnh là biểu tượng về nhân cách Việt, hơn là tinh thần phản phong và chống ngoại xâm như ta thường giải thích”(2).  
Hai trích dẫn vừa ghi có một nhìn nhận chung (tạm không bàn đến các nội dung ngoài việc nhìn nhận này): sự ứng xử của Trạng Quỳnh được xem là biểu tượng “của sự thâm thúy, thông minh” hay “về nhân cách”của dân tộc, hiện được mọi người đem ra ứng dụng. Đây là vấn đề mà bài viết đang đặt ra.
Khái niệm nhân cách thường được hiểu như một khía cạnh thiên về giá trị hay sự định giá về mặt đạo đức của tính cách. Bên cạnh đó, cũng có thể mở rộng phạm vi của “nhân vật Trạng Quỳnh”, thành các nhân vật trạng của tổng thể truyện trạng Việt Nam – sở dĩ cần sự mở rộng này vì các nhân vật trạng trong tổng thể truyện trạng Việt Nam ở nhiều vùng miền của đất nước, đều có quan hệ gắn bó với nhau thành một thể thống nhất, và nhìn chung, họ có cùng một tính cách. Bấy giờ, sẽ nảy sinh vấn đề: trong tính cách của các trạng, được cho là biểu tượng của tính cách dân tộc ấy, có những ưu, nhược điểm gì? Vấn đề cần được xem xét, bởi ngoài yêu cầu về nội dung mà việc tìm hiểu truyện trạng phải nắm bắt, còn là vấn đề thuộc lĩnh vực con người, nhân tố chính làm nên cục diện của đất nước.
2. Các nghiên cứu về truyện trạng thường nói nhiều đến mặt đấu tranh xã hội của nhân vật trạng. Trong một tìm hiểu của người viết về vấn đề, qua 371 mẩu truyện của 27 bộ phận truyện trạng Việt Nam, thì cụ thể về mặt đấu tranh này được chia làm ba lĩnh vực như sau: a)Truyện trạng chống lại sự gian tham, tàn ác của tầng lớp hào lí, quan lại, vua chúa (229 truyện, chiếm 61,7%); b) Truyện trạng trừ khử các thói hư tật xấu của người dân thường (114 truyện, chiếm 30,7%); c) Truyện trạng bài xích quỷ thần, người phụng sự quỷ thần (28 truyện, chiếm 7,5%). Nhìn chung, đó là sự đấu tranh vì tiến bộ xã hội. Có thể nói, ba nội dung vừa nêu đồng thời cũng là ưu điểm của truyện trạng, của nhân vật trạng.
Bên cạnh ưu điểm lớn vừa nêu, cũng cần trình bày một số nhược điểm, hạn chế hiện chưa thấy các nghiên cứu về truyện trạng đề cập. Đó là:
+ Nhân vật trạng sử dụng mưu kế, tức “bày binh bố trận”, quyết hạ bệ hay thuyết phục bằng được đối phương, và luôn thành công. Chúng ta không khó nhận ra, đây là cuộc đọ sức thiếu sòng phẳng, công khai, bởi một bên được chuẩn bị chu đáo, bên kia bị đánh úp bất ngờ. Nói rõ hơn, trạng đã sử dụng một phương tiện không công bằng, trong đó phần lợi nghiêng về phía mình. Nó tương tự với lối đánh mai phục hay phục kích (ém sẵn người, vũ khí ở một địa thế phù hợp, để bất ngờ tấn công khi đối phương sa vào trận địa đã chuẩn bị ấy), thường gặp ở các đội quân nhỏ lẻ, khi tổ chức chiến đấu chống lại một lực lượng đối lập mạnh hơn.
Điều vừa nói được thể hiện ngay trong chính mô hình (mô hình cấu trúc ngôn ngữ văn bản), đồng thời là kết cấu, cốt truyện gồm bốn phần (hay bốn bước) của thể loại này: 1) Tạo mâu thuẫn giữa nhân vật trạng và nhân vật là đối tượng mà trạng cần chiến thắng (theo lối hạ bệ, thuyết phục) – bước thắt nút haykhai đoan; 2) Nhân vật trạng tiến hành các phần việc theo mưu kế của mình, để tấn công đối tượng – bước phát triển; 3) Mưu kế được thực hiện trọn vẹn, nhân vật trạng chiến thắng, đối tượng của nhân vật trạng bị hạ bệ hay thuyết phục – bước đỉnh điểm, cao trào; 4) Nhân vật trạng hả hê, đối tượng của nhân vật trạng ê đòn (có khi, bước này nhằm giải thích cho bước trước) – bước mở nút, kết thúc.     
Trên đại thể, mô hình ấy đã phân định: phía nhân vật là đối tượng của trạng, đó là kẻ gian ác, sai bậy (nhân vật phản diện); phía nhân vật trạng, là người chống lại cái ác, bảo vệ lẽ phải, nhưng đang ở vào thế yếu (như người dân thường mà chống lại quan chức, quan nhỏ chống lại quan to,...), hoặc phải tự vệ chính đáng (nhân vật chính diện). Ngoài ra, có một điều quan trọng khác bổ sung cho sự hợp lẽ ở phía nhân vật trạng nữa, là việc làm của trạng không nhằm mang lại lợi lộc hay để vinh thân phì gia, mà vì cộng đồng, vì tôn trọng các chuẩn mực chung (về trí tuệ, đạo đức,...) (3)
Như vậy, đã có thể nói, truyện trạng, ở bình diện kết cấu hình tượng nghệ thuật, cái để tạo nên thông điệp cho tác phẩm, đã thể hiện một quan niệm ngầm ẩn: lấy mục đích biện minh cho phương tiện (4) (trạng đã vin vào mục đích chính đáng để biện minh cho phương tiện không được tử tế, sòng phẳng của mình). Đây là một quan niệm chỉ có thể chấp nhận trong một số trường hợp đặc biệt, bởi còn phải xem xét mức độ, phạm vi của mục đích cùng phương tiện sử dụng tương ứng, và hoàn cảnh của sự việc liên quan.
Có không ít phương tiện xấu đã làm lu mờ mục đích tốt đẹp. Chẳng hạn, truyện “Bà huyện đái dầm” (truyện Ba Giai) kể việc Ba Giai đột nhập vào thuyền của vợ chồng viên huyện Gà đang nghỉ ngơi bên bờ sông. Do có quen biết, nên ông được mời ăn uống cùng họ. Ăn xong, vờ lăn ra ngủ. Gần sáng, Ba Giai múc nước đổ từ chỗ bà huyện nằm đến chỗ mình, rồi lu loa lên là bà huyện đái dầm, ướt cả áo quần. Huyện Gà đành phải đền cho ông bộ đồ lụa tơ tằm mới, bộ đồ bị ướt kia cũng cho giặt và hứa mang đến trả tận nhà, lại biếu mấy quan tiền để đi ăn sáng. Đành rằng, tên huyện Gà (kẻ làm tay sai cho thực dân Pháp) rất đáng bị trừng trị, nhưng cách làm của Ba Giai không đàng hoàng, chỉ như một sự quậy phá, thậm chí, có phần giống với lối nằm vạ để kiếm chác của kẻ bất lương. 
Trường hợp đối tượng của nhân vật trạng là người yếu thế, thì chính trạng đã ỷ giỏi cậy khôn để bức hiếp người. Đọc hai mẩu truyện sau (một thuộc truyện Ba Giai, một thuộc truyện Thủ Thiệm): 
(a) BỞI VÌ ĐÔI DÉP
Hôm ấy, Ba Giai đang ngồi tán ngẫu với bạn bè, bỗng nghe có tiếng lợn kêu eng éc bên hàng xóm. Ông chạy ra xem, thì biết anh đồ tể ở làng xa đang mặc cả mua lợn của nhà ấy. Ông nói với mọi người:
- Cái thằng chết đâm chết chém nào lại muốn đến ngay cạnh nhà mình mà mua lợn, mua gà, khiến đinh tai nhức óc, chẳng còn ai trò chuyện gì được với chúng. Tức cha chả là tức!
Đám bạn nhao nhao, yêu cầu Ba Giai cho hắn một vố, để chừa cái thói táo tợn, giỡn mặt Ba Giai đi. Ông đồng ý, bảo mọi người cứ đợi xem.
Thấy anh đồ tể quảy lợn đi, Ba Giai vào trong lấy đôi dép mới toanh, cuộn chúng trong chiếc võng rách, rồi cắm cổ đi.
Con đường từ nhà Ba Giai ra đường cái uốn lượn quanh co, lại lắm cây cối rậm rạp. Ba Giai đi theo đường tắt, tới chỗ miếu gốc đa là nơi cây cối um tùm nhất, lôi đôi dép ra, vứt vào hai nhánh của khúc quẹo, cách nhau vài chục bước, đoạn nấp vào bụi cây chờ.
Lát sau, anh đồ tể khệ nệ quẩy lợn tới, nhìn thấy chiếc dép mới liền dừng chân ngắm nghía. Bụng định nhặt nhưng lại thôi, vì nghĩ chỉ có một chiếc thì dẫu mới cũng chẳng được trò trống gì. Nhưng đến bên kia khúc quẹo anh ta lại thấy một chiếc dép nữa, đồng bộ với chiếc trước. Anh đồ tể đặt con lợn trên vai xuống nhặt chiếc dép, rồi đi ngược lại chỗ trước để nhặt chiếc kia cho đủ đôi. Ba Giai chỉ đợi có thế. Ông nhảy xổ ra, tháo đòn khiên, bọc con lợn vào cái võng, vác nó lên vai, rồi chạy thật nhanh. Nhưng không phải ông chạy về nhà mình mà đến chỗ Tú Xuất.
Giao con lợn cho Tú Xuất xong, Ba Giai quay lại nhà mình. Ông thấy anh đồ tể nọ đang than vãn với nhà hàng xóm về chuyện mất lợn, và ngỏ lời muốn mua con khác, để không phải nghỉ phiên chợ. Đến khi anh ta mua xong, xốc lợn quảy đi, thì Ba Giai cũng vội vã chạy ra cổng. Đến chỗ bỏ dép ban nãy, ông nấp vào một bụi rậm.
Anh đồ tể khệ nệ tới. Chờ anh ta qua khỏi mình độ mươi bước, Ba Giai mới bịt miệng giả làm tiếng lợn kêu. Anh đồ tể chỏng tai: quả có tiếng lợn thật. Anh ta vội vã vứt đôi dép và quẳng con lợn trên vai xuống đường, chạy hộc vào bụi xăm xoi tìm kiếm. Ba Giai lách bụi chui ra, vác luôn con lợn lên vai, không quên nhặt lại cả đôi dép mới của mình, co giò chạy.
Sau một hồi chui lủi ở các bụi rậm để tìm kiếm không thành, anh đồ tể đành trở ra đường cũ, thì ôi thôi, cả con lợn và đôi dép không cánh mà bay! Anh ta kêu khóc, nguyền rủa kẻ cắp chán chê rồi vác cái đòn không lủi thủi ra về.(5)
(b) MẶC LỘN QUẦN NGƯỜI TA MÀ CÒN HÀM HỒ
Một người phụ nữ còn trẻ, vốn là chỗ bạn buôn mắm lâu nay của vợ Thủ Thiệm, cậy có chút nhan sắc nên rất vênh váo. Hôm ấy, do bán ế, trời thì đã chạng vạng, cô ta khó thể về nhà, bà Thủ thân tình mời về nhà, cho cô bạn ở tạm qua đêm. Thấy người phụ nữ trẻ này ra tuồng hợm mình, nói năng lại không được lễ phép, Thủ Thiệm ghét lắm.
Đến khuya, đợi cô ta ngủ say, Thiệm lấy một ngọn lá chuối đang còn ấp cọng, giả làm rắn, nhẹ nhàng luồn vào ống quần cô nàng. Thấy có vật gì bò lành lạnh, nhồn nhột trong quần, người phụ nữ giật mình thức dậy. Thần hồn nát thần tính, cô ta tưởng là rắn thật, vội vã chụp ngay lấy chỗ ống quần có con rắn đang bò, một tay giữ chặt lấy con rắn trong quần, một tay tụt vội quần ném ra xa. Thiệm chụp lấy cái quần của cô ả đem đi, và bỏ vào cạnh giường ả nằm cái quần của mình.
Hồi lâu, người phụ nữ thấy yên, nghĩ là con rắn chắc đã bò đi, mới lần mò tìm lại cái quần mặc vào, rồi yên tâm lên giường ngủ tiếp.
Trời mới hừng sáng, Thiệm mò tới giường cô ả, không chút e dè, đưa tay rờ rẫm, xoa bóp khắp người. Choàng tỉnh, cô ta hốt hoảng la lên. Thiệm cũng gân cổ la làng…
Tức nhiên, bà Thủ chạy tới trước tiên, kế đó là mấy người hàng xóm. Ai cũng nghĩ, chắc ông Thủ sinh tật.
Người phụ nữ ra sức phân bua:
- Chị Thủ và bà con coi, tui đang ngủ ngon, ông ni mò vô rờ mó tứ tung, thiệt là già dê…
Thủ Thiệm cũng giãi bày:
- Bà con nghĩ coi, cô ni thích ăn vụng mà cũng ưa làm bộ đoan trang. Ai đời, mặc lộn quần người ta mà còn hàm hồ, la lối. Thôi mau trả quần cho tui, quần của cô ở dưới chân giường kia kìa!
Người phụ nữ kênh kiệu nhìn xuống, quả nhiên quần của mình đang nằm ngay phía dưới chân giường, còn cái đang mặc là quần đàn ông rất rộng. Xấu hổ quá, cô ta chụp vội cái quần của mình chạy vào buồng trong.(6)
Ở (a), Ba Giai đã dùng mưu mẹo để cướp lấy hai con lợn của anh hàng thịt, trong lúc anh này chẳng làm điều gì đáng tội với mọi người, và với bản thân ông. Có thể thấy, việc đổ tội cho người mua do lợn kêu ồn khi bị bắt bỏ rọ, là tuỳ tiện, việc nhặt của rơi giữa đường cũng không có gì là sai trái. Hay vì anh này là đồ tể, nghề bị cho là không mấy lương thiện, khiến Ba Giai bất bình đến phải ra tay? Lí do để gỡ cái tội tước đoạt của cải người khác may ra được tìm thấy ít nhiều ở đó. Ở (b), Thủ Thiệm ghét người phụ nữ có nhan sắc mà vênh váo. Nhưng từ cái ghét thường tình kia đến việc “rờ rẫm, xoa bóp” lại còn đổ tội dâm ô lên người ta, thì đã không còn bình thường nữa, mà phạm tội: tội quấy rối tình dục, tội lăng nhục người khác. Ta thấy, tuy mục đích của các trạng là tốt hay có phần tốt (làm cho kẻ ít có thiên lương phải thua thiệt mà chùn tay, và kiếm lợn để thịt chiêu đãi bạn bè, hay trị thói hợm mình, vênh váo để người ta tốt lên), nhưng phương tiện thì tệ hại, đến mức không thể chấp nhận. Vả lại, hai nhân vật mà các trạng tước đoạt hay xúc phạm đều ở vào vị thế yếu, nên việc làm của trạng đáng bị chê trách, và nội dung truyện đã có phần phản cảm, phản tác dụng.  
+ Do yêu cầu đề cao trí tuệ và phải chiến thắng đối phương mà nhân vật trạng trở nên khô khan, thuần lí, gần như thiếu hẳn yếu tố tình yêu và lòng nhân ái. Truyện Xiêng Miệng (Lào), loại truyện tương tự với truyện trạng Việt Nam, có mẩu truyện cuối “Tuỳ ý chú”, kể việc Xiêng Miệng đi nhờ thuyền của một chú tiểu. Ông ngồi ỳ không chịu chèo giúp, lại nói “Cho lên ở đâu là tuỳ ý chú!”. Chú tiểu dựa vào lời nói hớ ấy để đẩy Xiêng Miệng xuống một vạt rừng gai mây hoang vắng (nơi đã vào thì khó thể thoát ra). Trước khi dùng mái chèo xua Xiêng Miệng ra khỏi thuyền, chú tiểu nói: “Xiêng Miệng, anh đã biết thế nào là trí khôn của con người chưa? Anh tưởng anh đánh lừa được người khác mà không bị người khác xỏ lại anh hay sao? Anh thông minh nhưng thiếu tình thương, và bây giờ thì anh cứ ở đây chờ khi nào có ai thương tình thì nhờ người đó cứu!” (7).
Thật ra, “thiếu tình thương” cũng là một đặc điểm trong tính cách của các nhân vật trạng, nói chung.
Ở đây, có thể nảy sinh một phản bác, rằng trạng đã đấu tranh chống các thế lực áp bức xã hội, loại bỏ những thói xấu ở một số cá nhân, hòng đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người, điều đó không phải tình thương, thì là gì? Vâng, đó là tình thương. Trên thế giới, có không ít thể chế, đảng phái chính trị, cả một số tôn giáo nữa, cũng đề ra mục đích, nhiệm vụ đấu tranh của tổ chức mình như thế, và cho một phần kết quả đạt được để nhận sự ủng hộ của cộng đồng chính là tình thương. Điều cần phân định trong trường hợp này là, cái tình thương từ việc đấu tranh làm cho xã hội tốt đẹp theo lối của một tổ chức, khác biệt với tình thương là một yếu tố trong tính cách của một con người hay một nhân vật trong truyện kể. Cũng có thể nói, có hai thứ tình thương: tình thương là thuộc tính của một con người; và tình thương là mục đích của một tổ chức đấu tranh cho sự công bằng và tiến bộ xã hội. Theo đó, thì nhân vật trạng không có loại tình thương đầu. Vì cá thể người hay nhân vật truyện có thất tình lục dục, nên cũng có một tình thương cụ thể mang chất người, chứ không phải thứ tình thương trừu tượng, vượt ra ngoài phạm vi của một con người; do đó, ở bình diện đang bàn, có thể nói, nhân vật trạng không có tình thương.
+ Có một số trường hợp, trạng hành xử theo lời thách đố, thường có thưởng (tiền bạc, cuộc rượu,...) của người khác, như “Dằn mặt chú khách” (truyện Tú Xuất),“Đây là của chú!” (truyện Mân Nhuỵ), “Nhờ nước giếng mát quá mà sáng mắt” (truyện Nguyễn Tuyn), “Vuốt râu hùm” (truyện Thủ Thiệm), “Ông khách không mời” (truyện Học Hoàng), “Trị bệnh trứng trắng” (truyện Bợm Bảy), “Sợ bay mất mấy con chim”, “Anh Ba Tiền chết đâm” (hai mẩu thuộc truyện Ba Giai),“Mua bút”, “Đổ ruốc vào bàn tay” (hai mẩu thuộc truyện Phủ Tuấn),... Sự thành công trước các thách thức gay cấn nói lên tài cán của trạng; đồng thời, ở nhóm truyện này, cũng dễ dàng nhận ra sự háu thắng, có khi bất chấp sĩ diện của nhân vật này.
Bên cạnh đó, một số truyện khác lại cho thấy, để kiếm ăn, trạng giở đủ ngón nghề, và nhằm vào người dân thường. Sự việc này xuất hiện nhiều ở bộ phận truyện Tú Xuất: “Con trong cối, mẹ giữ chày”, “Để mất bạc của khách, chủ quán trọ phải đền”, “Của cô mày tròn hay méo?”, “Vịt đẻ năm trứng một đêm”, “Bùa cầu tài”,... Truyện đầu kể việc Tú Xuất giả làm pháp sư kiêm thầy thuốc đến chữa bệnh cho một cậu bé, con của một người đàn bà goá. Ông bảo bà mẹ sắc thuốc nam với hai nén bạc, lại bảo bà nhấn chân giữ chỗ đầu chày để đầu kia ngỏng lên, có chỗ mà đặt đứa trẻ vào cối (loại cối đạp), để ông làm phép. Khi bà chủ nhà bị “khoá phép” như thế, ông lấy hai nén bạc lỉnh đi.    
Các truyện này cho thấy, trạng đã phải dùng đến hạ sách, là lừa dối để có cái ăn hay kiếm tiền sống qua ngày. Do trong tình trạng quẫn bách (cái đói) người ngoài cuộc có thể thông cảm. Nhưng với người bị hại thì khó tránh khỏi điều chê trách, thậm chí cho trạng là trí trá, lừa đảo. Bấy giờ điều gọi là thuyết phục ở nhân vật trạng bị hạ thấp. Việc gọi đích danh trạng là “bợm”, là “láo” (truyện Bợm Bảy, truyện Anh Láo, người Việt), là “thằng” (truyện Thằng Cuội, người Mường),… cũng phản ánh một cách nhìn nhận của dân gian, chủ thể đã sáng tạo ra các nhân vật trạng. Sự nhìn nhận này có thể xuất phát từ những truyện như thế. 
3. Từ việc trình bày trên, có thể nói: khi cho tính cách nhân vật trạng là biểu tượng về tính cách của dân tộc, thì điều quan trọng hàng đầu, là không nên coi tính cách ấy là hoàn toàn tốt đẹp và đã định hình, để cứ thế mà làm theo. Bởi như chúng ta đã thấy, trong tính cách của nhân vật trạng có nhiều ưu điểm, nhiều yếu tố tích cực, nhưng cũng có một số nhược điểm, hạn chế.
Cho đến nay, có việc lớn như quan hệ với nước ngoài của các đoàn ngoại giao, không ít người chú trọng đến việc đối đáp sao cho rắn rỏi, thể hiện được lòng tự tôn dân tộc của sứ giả hơn là quan tâm về những kết quả cần có mà chuyến quan hệ ngoại giao ấy mang lại cho đất nước, có việc nhỏ như vào các tháng đầu năm 2013 này, trên báo chí rộ lên thông tin các học sinh bậc phổ thông khắp nước, rất thích tấn công bạn bằng loại đồ chơi gọi là “bom thối” (khi xì ra, phát mùi hôi), chúng đều ít nhiều có “dính dáng” đến truyện trạng, nhân vật trạng. Việc đầu có thể tìm thấy ở cung cách ứng xử của phần lớn các nhân vật trạng; việc sau, có thể tìm thấy trực tiếp qua hành động của ba nhân vật trạng: Trạng Quỳnh (ở truyện “Ống quyển thi”), Xiển Bột (ở truyện “Trị bọn Tây đoan bắt rượu lậu”), Thủ Thiệm (ở truyện “Mo cơm”),... Cho dù các việc vừa nêu có thuộc tính cách dân tộc đi nữa, thì đó cũng là những việc làm không đúng. Mà đã vậy thì cần phải chỉnh sửa. 
Một dân tộc biết ưu điểm để xiển dương, phát huy, biết nhược điểm hòng khắc phục, chế ngự, là một dân tộc tiến bộ. Trên con đường phấn đấu để có được một tính cách dân tộc tốt đẹp, thì những nhược điểm đang mắc phải nên đẩy lùi dần về quá khứ.
Bàn về tính cách dân tộc qua một đối tượng cụ thể là truyện trạng, một thể loại văn học dân gian có biểu hiện mạnh về vấn đề đặt ra, có thể có sự thuyết phục nhất định.
T.N
  (1) Nguyễn Văn Tuấn, “Thói nguỵ biện của người Việt”, vanhoanghean.com.vn/, ngày 8-8-2010.
  (2) Nguyễn Khoa Điềm, “Lạm bàn về thơ Việt hôm nay”, trannhuongcom.blogspot.com/, ngày 11-10-2011.
(3) Để biểu thị điều này, các nhân vật trạng đều có cuộc sống nghèo khổ hoặc ở mức trung bình (như Xiển Bột, Phan Điện, Nguyễn Kinh, Thủ Thiệm, Ông Ó, Anh Kđưng, Khun Hón,...), và có những kết cục không bình thường (như Trạng Quỳnh, Men Chây bị vua chúa hại chết; Ba Giai, Tú Xuất và nhiều trạng khác chỉ xuất hiện lúc còn trẻ rồi mất tăm dạng).
(4) Cũng nói “cứu cánh biện minh cho phương tiện” (“cứu cánh”: mục đích cuối cùng).  
(5) Theo: Nguyễn Cừ, Phan Trọng Thưởng, Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam – Tập III: Truyện cười, truyện trạng cười, truyện ngụ ngôn, Nxb. Giáo dục, tr. 336-340.
(6) Theo: Nguyễn Văn Bổn, Thủ Thiệm – Tiếng cười dân gian độc đáo xứ Quảng, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2011, tr. 173-174.
(7) Theo: Trương Sĩ Hùng (Chủ biên) Nguyễn Đức Hiền, Đào Văn Tiến, Truyện trạng Đông Nam Á: Thơmênh Chây, Xiêng Miệng, Trạng Quỳnh, Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai Kon Tum xuất bản, 1987, tr. 115. 

Thứ Năm, ngày 26 tháng 5 năm 2016

Nhận xét của một số nhà lý luận, phê bình văn học về Trạng Quỳnh


Đinh Gia Khánh:

"Truyện Trạng Quỳnh đả kích mạnh mẽ vào toàn bộ giai cấp phong kiến từ nho sĩ (Ông Tú Cát, Quan trường mắc lỡm); phú hào (Ông nọ bà kia) quan lại (Nhặt bã trầu, Lỡm quan thị, Chọi gà); chúa Trịnh (Tương muối cũng ngon, Chúa ngủ ngày, Cây nhà lá vườn), vua Lê (Ăn trộm mèo, Tiên sư thằng bảo thái); thần linh (Cấy rẽ ruộng chúa Liễu, Vay tiền chúa, Trả ơn chúa Liễu, Cúng thành hoàng, Bà Banh mất thiêng, Phật say). Trong hệ thống truyện Trạng Quỳnh, lại không thiếu một nội dung rất quen thuộc của truyện dân gian là việc đề cao ý thức dân tộc (Vua Tàu thử sứ, Sứ Tàu mắc lỡm). Nhưng nội dung quán xuyến toàn bộ tác phẩm là tiến công vào mọi thiết chế của Nhà nước phong kiến từ thấp đến cao. Từ việc đặt câu đối "Giời sinh ông Tú Cát - Đất nứt con bọ hung", "Miệng kẻ sang có gang có thép - Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm" để đả kích nho sĩ, quan lại, đến việc giải thích hai chữ "ngọa sơn" để chửi chúa Trịnh, từ việc gọi thần Thành hoàng một cách xách mé là chú ("chú là kẻ cả trong làng, ta là người sang trong nước") đến việc làm thơ nhạo Phật:

"Ông đứng chi mà đứng mãi đây?
Dập dềnh như tỉnh lại như say.
Vãi nào đã chuốc cho ông rượu?
Còn có, cho vay một nậm đầy".


- thì rõ ràng truyện Trạng Quỳnh không kiêng nể bất cứ một thứ uy quyền nào của Nhà nước phong kiến. Nhân vật Trạng Quỳnh "không biết trên đầu có ai" ấy sau cùng có chết thì truyện mới kết thúc được. Nhưng để kết thúc truyện, tác giả dân gian lại xây dựng tình tiết Trạng chết chúa cũng thăng hà. Trạng Quỳnh bị chúa đánh thuốc độc, Trạng Quỳnh biết mình không tránh khỏi cái chết, nhưng Trạng đã bày mẹo đánh lừa, khiến chúa Trịnh cũng ăn phải thuốc độc mà chết theo. Thế là "Trạng chết chúa cũng thăng hà, dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn". Thế là đến khi chết rồi, Trạng Quỳnh vẫn chưa hết tiến công vào vua chúa. Có thể nói truyện Trạng Quỳnh là hệ thống truyện cười có tính chiến đấu cao nhất, tiêu biểu nhất trong thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến".

(Văn học dân gian Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1973, tập 2, trang 210, 211).


Tô Hoài:

"Thói thường, người ta nghĩ thủ đoạn châm biếm bóng gió là đòn ngầm của kẻ khôn ngoan, nhưng yếu. Đọc Trạng Quỳnh thấy hoàn toàn không phải thế. Đối mặt với Trạng Quỳnh, đến trời đất thần Phật tôn nghiêm thiêng liêng thống trị đầu óc con người thời ấy cũng phải chịu một phép. Sá gì bọn vua chúa, quan cách, là nhà giàu hợm của, những nhãi nhép nịnh bợ thổi kèn đu đủ, tất cả lúc nhúc, đáng khinh đáng tởm, tất cả bị Trạng vặt râu, Trạng đập đánh túi bụi, sau cùng Trạng nhổ bãi nước bọt vào mặt, rồi Trạng Quỳnh cất tiếng cười hả hê. Cái sảng khoái coi trời chỉ bằng vung ấy bộc lộ nỗi lòng và niềm vui của cả nghìn cả triệu con người, các thế hệ nhân dân lao động phản kháng áp bức, chống quyền thế phong kiến. Võ khí dăng dăng la liệt mọi nơi, làng xóm, chợ búa, hàng quán, đám hội, vạn chài trên sông bể, chuyện Trạng Quỳnh được kể đi kể lại, người kể và người nghe ngồi chung với nhau thành một tác giả, làm phong phú mãi câu chuyện bịa đặt mà như thật... những tiếng cười tiêu biểu tâm hồn lạc quan của con người".


Vũ Ngọc Khánh:

Cái hài hước, cái chống đối của tâm lý Việt Nam dưới chế độ cũ, là sự phản kháng chống lại áp bức bất công chứ không phải là do cao trào của một ý thức, một đòi hỏi về một xã hội cấp tiến, dân chủ và thiên hướng duy lý của nó. Có thể đưa ra một so sánh dù là hơi khập khiễng - rằng Natxêdrin ở Trung Á chẳng hạn thì thực sự là một nhà hiền triết vui tính trong khi đó thì Trạng Quỳnh ở nước ta cũng rất vui tính song không có phong cách của nhà hiền triết. Cần phải nhận rõ điều đó để thấy chỗ mạnh, chỗ yếu của truyện Trạng - và cả truyện cười dân gian - ở nước ta.


Văn Tân:

"Tiếng cười của Trạng Quỳnh về căn bản là tiếng cười của thị dân Việt Nam hồi thế kỷ 18. 

Hình thái ý thức Trạng Quỳnh là hình thái ý thức có nhiều nhân tố thị dân đang bất mãn với hiện tại, đang khao khát một tương lai mới mẻ. Không có hình thái ý thức thị dân ấy, thì ở dưới chế độ phong kiến, không thể có thái độ chống giai cấp phong kiến có hệ thống và tương đối triệt để như thái độ Trạng Quỳnh được.

Tóm lại, truyện Trạng Quỳnh là một tác phẩm văn học có một nội dung chống giai cấp phong kiến thống trị, phong phú, mạnh mẽ, và một nghệ thuật trào phúng tinh vi, sắc bén. Đó là một tác phẩm văn học phê bình hiện thực có giá trị của nền văn học trào phúng Việt Nam".

( Sơ thảo Lịch sử văn học Việt Nam, quyển 3, Nhà xuất bản Văn, Sử, Địa, Hà Nội, 1959, tr. 148, 149).


Lê Chí Quế:

"Đặc điểm về mặt kết cấu của truyện Trạng Quỳnh khác biệt so với các truyện cười dân gian khác là nó được tập hợp lại thành hệ thống xung quanh một nhân vật trung tâm: Trạng Quỳnh.

Truyện Trạng Quỳnh là hệ thống truyện có giá trị tố cáo, phê phán chế độ phong kiến một cách mạnh mẽ và sâu sắc nhất trong các truyện cổ dân gian Việt Nam".

(Văn học dân gian Việt Nam, Tủ sách Đại học Tổng hợp, Hà Nội, 1990, tr.157).


Kiều Thu Hoạch:

- "Truyện Trạng Quỳnh tuy cùng loại hình với truyện Trạng Lợn nhưng đã tiến một bước xa hơn hẳn cả về nội dung phê phán hiện thực lẫn cấu trúc nghệ thuật.

Trạng Quỳnh chĩa mũi nhọn vào mọi thứ quyền uy lớn nhỏ của xã hội phong kiến. Trạng Quỳnh đã đồng thời công kích cả vương quyền lẫn thần quyền, hai thành lũy vốn từ lâu là thiêng liêng bất khả xâm phạm của chế độ quân chủ. 

Vua Lê, chúa Trịnh, thần thánh, quan lại, sứ giả của "Thiên triều"... trong truyện Trạng Quỳnh đều là những hình tượng nhân vật ngu đần, kệch cỡm đều trở thành những cái bung xung để làm trò cười cho nhân dân. 

Truyện Trạng Quỳnh cùng với hệ thống các truyện Trạng, truyện Cười khác là tiếng nói phê phán hài hước của nhân dân muốn từ giã chế độ phong kiến suy tàn đương thời. Truyện Trạng, truyện Cười là biểu hiện cao của ý thức dân chủ và tinh thần chiến đấu của nhân dân".

(Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, Đinh Gia Khánh, Trần Tiến chủ biên, Sở Văn hóa và thông tin Hà Nội, 1991, tr.120, 121).


Hoàng Tiến Tựu:

"Trước tiên, truyện Trạng Quỳnh nêu lên vấn đề thông minh tài trí. Khi học tập, nghiên cứu truyện cổ tích, ta đã thấy vấn đề này được nói đến trong nhiều truyện, nhưng không ở đâu con người thông minh tài trí được xây dựng tập trung, độc đáo như ở Trạng Quỳnh.

Cái thông minh của Trạng Quỳnh căn bản là của quần chúng, do đó việc đề cao tài trí Trạng Quỳnh cũng chính là đề cao trí tuệ của quần chúng. Bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, cái thông minh tài trí của con người vẫn đáng quý, đáng ca ngợi, nhưng đáng quý, đáng ca ngợi hơn cả là khi cái thông minh tài trí ấy được đem ứng dụng vào trong thực tế đấu tranh của quần chúng. Trạng Quỳnh đã làm được điều đó. Vì vậy truyện Trạng Quỳnh không phải chỉ đề cao con người thông minh tài trí, mà chính là đề cao con người biết vận dụng tài trí của mình vào trong cuộc đấu tranh thực tế chống phong kiến. Tư tưởng phản phong là tư tưởng chủ đạo quán triệt trong toàn bộ truyện Trạng Quỳnh.

Vấn đề chống phong kiến không phải đến truyện Trạng Quỳnh mới được đặt ra, lại càng không phải là một nội dung mới mẻ và riêng biệt của truyện Trạng Quỳnh. Trong thực tế, vấn đề chống phong kiến đã được đặt ra từ lâu trong những thế kỷ trước và đến thế kỷ XVIII nó đã trở thành một nội dung chủ yếu trong hầu hết những tác phẩm văn học dân gian cũng như trong nhiều tác phẩm của văn học viết.

Nhưng cái đáng chú ý trong truyện Trạng Quỳnh là ở phạm vi và mức độ phản phong của nó.

Kẻ thù của Trạng Quỳnh rất đông, phạm vi đấu tranh của Trạng Quỳnh rất rộng. Cuộc đời của Trạng Quỳnh là một cuộc đấu tranh liên tục không ngừng".

(Lịch sử văn học Việt Nam, tập I, phần 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, in lần 3, 1970, tr.192, 193).

"Tiếng cười của truyện Trạng Quỳnh căn bản là tiếng cười đấu tranh phê phán xã hội theo yêu cầu của tinh thần dân tộc và dân chủ. Nhân vật Trạng Quỳnh luôn bám sát kẻ thù của dân tộc và nhân dân, bám địch và đánh địch không ngừng, không chỉ cho đến khi chết. Và cái chết của Trạng Quỳnh cũng là cái chết rất đặc biệt và độc đáo - một cái chết vừa chủ động vừa bị động và bế tắc, vừa "bi", vừa "hài" rất phức tạp và giàu ý nghĩa".

"Đến truyện Trạng Quỳnh thì vai trò của quần chúng nhân dân mới được khẳng định và đánh giá cao. Nhân vật Trạng Quỳnh (cũng như nhiều nhân vật tích cực khác trong truyện cười) không phải là đối tượng, cũng không phải là phương tiện mà là chủ thể của tiếng cười phê phán".


Nguyễn Đăng Na:

"Kết tinh của trí và tài, dũng và lực là truyện Trạng Quỳnh và Trạng Ngộ. Cũng như những nhân vật Trạng khác, Trạng Quỳnh và Trạng Ngộ trực diện đương đầu với mọi thế lực xã hội từ thần quyền đến vương quyền, từ vua, chúa, hoàng tử, đến tổng đốc, quan thị, tri huyện, từ bọn quan trường đến bọn xiểm nịnh... Chủ động giăng bẫy để đưa đối phương vào là sở trường của các Trạng. Tất cả bọn thống trị, dù quyền cao chức trọng đến đâu, dù ác độc đến mấy cũng đều bị trí và dũng của Trạng biến chúng thành những con rối, những anh hề thảm hại... Bạo lực có thể giết được con người, nhưng không giết nổi trí và dũng của con người. Trạng Quỳnh chết bắt chúa Trịnh phải chết theo. Tiếng cười vang lên! Cười vì chiến thắng, cười vì khinh bỉ".

(Truyện Trạng, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1988, tr.4).


Trần Gia Linh:

Một hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam gồm nhiều truyện cười ngắn, xoay quanh nhân vật trung tâm là Trạng Quỳnh, một hình tượng văn học đầy sáng tạo của nhân dân thế kỷ 18, tượng trưng cho trí thông minh, sức mạnh chiến đấu, tinh thần lạc quan của quần chúng chống lại bộ máy cai trị của chính quyền phong kiến từ trên xuống dưới thời Lê mạt... Trạng Quỳnh là bức tranh tố cáo toàn bộ hệ thống cai trị của chế độ phong kiến... Cuộc sống đã bị đảo lộn, những giá trị tinh thần cần đánh giá lại. Nhân dân muốn "từ giã chế độ phong kiến" bằng hệ thống truyện cười. Truyện còn có những hạn chế nhất định, cái chết của Trạng Quỳnh thể hiện sự bế tắc, cuộc chiến đấu mạnh mẽ nhưng không có lối thoát... Là một hệ thống truyện cười có kết cấu tương đối chặt chẽ. Từng truyện tách riêng có thể coi như một truyện hoàn chỉnh về nội dung cũng như hình thức, nhưng vẫn thống nhất xung quanh một nhân vật chính. Một tác phẩm tập trung được nghệ thuật gây cười của dân gian từ lối nói, hành động đến hoàn cảnh đáng cười.

(Từ điển văn học, nhiều tác giả, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nôi, tập 2, 1984, tr.415, 416).


Trương Chính và Phong Châu:

"Quỳnh mang tính chất nhà Nho. Quỳnh hay nói chữ, hay làm thơ, câu đối. Thơ nôm Quỳnh phảng phất thơ Hồ Xuân Hương. Nhưng mặt nào đó, Trạng Quỳnh giống Trạng Lợn ở chỗ gần nhân dân, có đầu óc thực tế, hay lấy kinh nghiệm sống để giải quyết khó khăn. Lại nữa, tuy giỏi văn thơ, nhưng để đả kích kẻ thù, không phải lúc nào Quỳnh cũng dùng văn thơ mà có thể văng tục, như trong một số truyện cười. Tính nhân dân của truyện Trạng Quỳnh đặc biệt thể hiện ở mặt chọn đối tượng đả kích, và bổ sung cho truyện cười bằng cách tấn công vào bọn chóp bu của chế độ phong kiến...

Truyện Trạng Quỳnh hấp dẫn ở chỗ nhân vật Trạng Quỳnh lúc nào cũng tỏ ra thông minh, tài trí. Cái thông minh tài trí, tuy nhiều lúc thô bạo, lèo lá, nhưng đã được dùng vào việc chống chính quyền phong kiến, chống thần quyền, chống khoa cử hư danh, tức là chống giai cấp thống trị và những kẻ tiếp tay cho chúng".

(Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội)

Thứ Hai, ngày 23 tháng 5 năm 2016

TRẠNG CHẾT CHÚA CŨNG BĂNG HÀ

Từ bận ấy, chúa có bụng ghét Quỳnh. Được mười hôm, chúa đòi Quỳnh vào thị yến, định đánh thuốc độc cho chết, Quỳnh biết chúa căm về mấy chuyện trước, lần này đòi vào thị yến, chắc là có chuyện. Lúc đi dặn vợ con rằng:

      - Hôm nay ta vào hầu yến Chúa, lành ít, dữ nhiều. Ta có mệnh hệ nào, thì không được phát tang ngay, cứ phải để ta vào võng, cắt hai đứa quạt hầu, rồi gọi nhà trò về hát, đợi bao giờ phủ chúa phát tang thì ở ngoài hãy phát tang.

      Dặn xong, lên võng đi.

      Quỳnh vào đến cung, đã thấy chúa ngồi đấy rồi. Chúa bảo:

      - Lâu nay không thấy mặt, lòng ta khát khao lắm. Vừa rồi, có người tiến hải vị, ta nhớ đến ngươi, đòi vào ăn yến, người không được từ.

      Quỳnh biết chúa thù về cây cải hôm nọ, không ăn không được. Vừa nếm một miếng thì chúa hỏi:

      - Bao giờ Quỳnh chết?

      Quỳnh thưa:

      - Bao giờ chúa băng hà thì Quỳnh cũng chết?

      Ăn xong, Quỳnh thấy trong người khang khác, cáo xin về. Vừa về đến nhà thì tắt hơi. Vợ con cứ theo lời Quỳnh dặn mà làm. Chúa sai người dò xem Quỳnh có việc gì không, thấy Quỳnh đương nằm võng nghe nhà trò hát, mà người nhà thì đi lại vui vẻ như thường, về tâu với chúa. Chúa liền đòi đầu bếp lên hỏi xem đánh thuốc thế nào mà Quỳnh không việc gì.

      Chúa ăn thử, được một chốc thì chúa lăn ra chết.

      Nhà Quỳnh nghe thấy trong dinh chúa phát tang thì ở nhà cũng phát tang. Chúa và Trạng đưa ma một ngày. Thế mới biết Quỳnh chết đến cổ còn lừa được chúa mới nghe. Người đời sau có thơ rằng:

      "Trạng chết chúa cũng băng hà

      Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn".

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 4 năm 2016

LÀM THƠ XIN ĂN

Tại một làng thuộc tỉnh nọ có tên địa chủ giầu có nứt vách, lại nổi tiếng gian ác và hay hà hiếp dân lành. Hắn có cô con gái tuy đẹp nhưng cũng nổi tiếng không kém cha về cái thói chua ngoa đanh đá. Cô gái này thường thay cha ra đồ nam đốc thúc kẻ làm thuê.
Một hôm, cô ta đang đứng trên bờ ruộng, tay chống nạnh, đầu có nón quai thao, quan sát các nông dân làm thuê gặt lúa thì có một chàng thiếu niên dáng vẻ nho sinh đi ngang qua. Nho sinh thấy cảnh đó liền dừng lại hỏi thăm một bác nông dân về cô gái kia. Bác nông dân bảo cô ta là con gái của chủ ruộng, ngày nào cũng ra đứng đây để mà đôn đốc việc đồng áng, nói là thế nhưng thật ra ai làm lụng chậm chạp một tí là cô ta ngoác miệng ra chửi chẳng tiếc lời. Có lắm người tuy đói nhưng ráng chịu chứ không làm thuê cho cô ta để khỏi bị nhục.
Nghe kể xong, chàng thiếu niên liền tiến đến gần bờ ruộng nơi cô kia đang đứng. Thiếu niên bảo cô nàng mình là học trò lỡ độ đường, nhịn đói đã hai ba bữa nay, xin cô gia ân bố thí cho ít lúa thổi cơm.
Thấy chàng trai khôi ngô khoẻ mạnh lại đi xin ăn, cô gái nguýt dài và bảo:
- Này, cô bảo cho biết, của đâu mà lấy không của người ta hả, nếu đúng học trò thì ứng khẩu xuất thi cho cô nghe lọt lỗ tai đã, bằng không thì cứ thẳng đường mà xéo!
Chàng thiếu niên kia nhận lời ngay và xin cô gái ra chủ đề cho mình làm thơ. Cô kia bảo:
- Ðã ăn xin còn vẽ chuyện, cứ làm thơ xin ăn là hợp nhất chứ còn đề điếc gì nữa!
Chàng trai suy nghĩ trong thoáng chốc rồi đọc to:
Tuyên Quang, Hoằng Hoá cũng thờ vua.
Nắng cực cho nên phải mất mùa
Lại đứng đầu bờ xin xỏ chị.
Chị lỡ lòng nào chị chẳng cho.

Nghe xong bốn câu thơ ấy, cô gái đỏ gần cả mặt, ngượng quá không còn biết nói năng gì nữa cả, vội vội vàng vàng lấy lúa đưa cho chàng trai kia. Chàng kia chẳng thèm cám ơn, đi thẳng một mạch trong tiếng cười khúc khích của các người làm ruộng thuê.

Về sau, người ta biết ra chàng trai ấy chính là Trạng Quỳnh. Còn phần cô gái thì sao? Cô ta mất hẳn cái thói đanh đá chanh chua, mà cũng từ hôm ấy, không thấy cô ra đồng đứng chống nạnh như trước nữa.

Thứ Tư, ngày 23 tháng 3 năm 2016

Vay Tiền Chúa Liễu

 Lại một lần Quỳnh vào yết đền, thấy Chúa Liễu có nhiều tiền, lại đang lúc túng quá, liền nghĩ cách vay tiền, Quỳnh khấn:

      - Em độ này túng lắm, mà chị lại đang có tiền để không, xin cho em vay để em mua bán, kiếm ít lời sẽ trả lại. Nói rồi, khấn đài âm dương: "Sấp thì chia tư, chị cho em vay một phần, ngửa thì chia ba, chị cho một phần, chị mà thuận cho một nửa thì xin nhất âm nhất dương"

      Thấy đằng nào Quỳnh cũng vay được, mà ý Chúa Liễu thì không muốn cho vay, vì biết được là cho Quỳnh vay, cũng như lần cấy rẽ ruộng, Chúa Liễu nhất định sẽ thiệt, liền cứ làm cho hai đồng tiền quay tít, chẳng xấp mà cũng chẳng ngửa.

      Quỳnh thấy thế liền vỗ tay reo:

      - Tiền múa Chúa cười, thế là chị bằng lòng cho em vay cả rồi! Nói xong, lấy hết cả tiền, bỏ vô bao mà về.

Thứ Ba, ngày 23 tháng 2 năm 2016

LỄ TẾ SAO

Chúa Trịnh lâm bệnh ngày một nặng. Lúc đầu cớm nắng, cớm gió, dần dần nửa tỉnh, nửa mê, tâm thần hoảng loạn. Chứng bệnh nhà chúa thật tai ác. Mỗi ngày lên cơn năm bảy bận. Mỗi bận lại bắt bọn quan lại đem một người đàn bà đẹp vào cung cấm, lột trần truồng trước mặt chúa, để chúa cào cấu, cắn xé... Có như thế con bệnh mới chóng lui. Nhiều thiếu nữ đã chết oan uổng, hoặc chịu mang thương tích suốt đời, Quỳnh biết chuyện này, hết sức phẫn nộ. Quỳnh tự nhủ không để tình cảnh ấy kéo dài, bèn lập mẹo trị bệnh chúa...

      Có tin bắn đến tai bà chính cung: Chỉ có Trạng Quỳnh mới chữa khỏi căn bệnh hiểm nghèo kia của chúa.

      Bà chính cung tức tốc cho vời Trạng đến:

      - Tính mệnh của chúa như ngàn cân treo sợi tóc. Ta dùng đủ tay ngự y danh tiếng, đã lễ cầu các vị tiên liệt ở nhà thái miếu và các đấng thần. Phật tối linh khắp miếu xa, miếu gần mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Bây giờ chỉ còn trong cậy vào Trạng.

      Quỳnh vào thăm bệnh chúa, lúc trở ra, làm bộ lo lắng tâu với chính cung:

      - Tâu lệnh bà, đúng như lời người dạy, sự sống của đức ngài chỉ còn le lói trong muôn một. Tiếc là lệnh bà cho gọi thần hơi muộn. Nhưng còn nước còn tát, thần xin dốc sức vì chúa một phen. Thần chẳng cần tiền bạc, danh vọng gì, chỉ thỉnh cầu lệnh bà chuẩn y cho mấy điều.

      Quỳnh ra hiệu để chính cung đuổi hết quan thị và bọn hầu cận đi khỏi, mới nói tiếp:

      - Biết sắp vào chầu Đức bà và thăm nhà chúa, đêm qua thần đã tắm gội sạch sẽ, vào cầu mộng ở đền Trấn Vũ.

      Chính cung vội hỏi:

      - Đức thánh ngài dạy sao?

      - Thần cầu mộng lúc giờ tí đến giờ sửu ứng mộng ngay. Đức thánh truyền cho thần biết, muốn cứu nhà chúa, trước hết phải làm hai việc. Đức bà phải tha hết những con gái nhà lành và tất cả những người đàn bà khác đang bị giam giữ ở các nơi trong phủ chúa để đợi đưa tiếp vào cung tiến. Đức bà phải lập một đàn sao giữa trời đất để thần làm lễ tế sao. Trong bảy ngày đêm liền, thánh truyền phải dùng dây lụa buộc chặt nhà chúa vào sập rồng. Ngoài chính cung lệnh bà và kẻ hạ thần với hai tên hầu cận, tịnh không một ai được đến gần đức ngài.

      Bà chính cung ngẫm nghĩ một lát rồi chấp thuận. Ngay hôm sau, mọi việc bắt đầu. Quỳnh đứng ra làm lễ tế sao. Đêm đến, trên dàn cao, bà chính cung và các hàng quan văn võ đại thần mặc lễ phục, hai tay dâng hương, quỳ mọp gối chung quanh chủ tế. Quỳnh tay cầm nghi trượng, tay "Bắt quyết", mồm luôn đọc bài văn tế sao:

      - Ô hô Ngàn sao! Sao Loan, sao Mệ! Sao Dập, sao Dung! Sao Ú, sao Ngang! Sao Bao, Sao Hạn, Sao Tai! Mau cút lên trời! Chúa tôi khỏi bệnh! Ô hô cút mau!...

      Sau mỗi lần đọc, Quỳnh lại bắt mọi người đồng loạt nhắc lại.

      Thật kỳ lạ, chỉ tế sao trong vài đêm, bệnh chúa lui trông thấy. Đến ngày thứ năm, chúa van vỉ kêu rên như một phạm nhân xin giảm tội: "Ta hết cơn rồi. Các người mau cởi trói cho ta!" Quỳnh nghiêm giọng, đe nạt:

      - Tuỳ chúa đấy thôi! Nếu chúa nóng lòng, không chịu phép đủ kỳ hạn, sau này thánh quở phạt, đừng trách cứ vào Trạng. Nhà chúa đành nghe theo. Sau bảy ngày đêm, chúa gần khỏi, người tỉnh táo, ăn ngon miệng. Chính cung cả mừng, mở tiệc khoản đãi Trạng. Trong thành, ngoài cõi đồn dậy lên:

     "Trạng Quỳnh có thuật tế sao vô cùng mầu nhiệm!" Các quan chiêm tinh đọc bao nhiêu sách chưa hề thấy có những vì sao lạ như vậy, lục tục kéo nhau đến khẩn khoản xin cầu Trạng truyền cho bí quyết, Trạng nói:

     - Tôi không phải thầy cúng, cũng không phải thầy lang. Chẳng qua nhà Chúa từ lâu đã mắc chứng ham mê tửu sắc, ăn, uống, thức, ngủ vô điều độ. Các ngự y đến xem mạch lại đua nhau bốc thuốc bổ thận, bổ dương, càng đẩy con bệnh đến chỗ cường dục, loạn tâm, loạn trí. Tôi bày mẹo cầu mộng là cố mượn uy thần thánh bắt nhà chúa nằm bất động, kiêng khem mọi thứ, cho thể trạng trong người bình thường lại. Còn bài văn tế kia cũng chẳng có gì bí truyền cả. Cứ đọc ngược, khắc rõ nghĩa. Tôi xin tế lại các ngài nghe.

      - Ô hô! Ngàn sao! Sao Loan, sao Mê là sao Mê, sao Loạn, sao Dập, sao Dung là sao Dục, sao Dâm, sao Ú, sao Ngang là sao Ác sao Ngu... Các chiêm tinh nghe Trạng kể như vậy đều cười bò cười lăn.

      - Các ngài thừa hiểu một khi các thứ sao xấu, sao độc kia không còn ám ảnh nhà chúa nữa, đã "Cút lên trời" thì nhà chúa hết bệnh chứ còn gì nữa. Họ phục Trạng vừa giàu trí thông minh, vừa giàu lòng nhân ái, xứng danh là "Ngôi sao sáng xứ Thanh". 

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 1 năm 2016

CÂY NHÀ LÁ VƯỜN



Quỳnh nhiều lần dùng trí thông minh, tài đối đáp để trêu chọc chúa Trịnh, nên trước chúa quý trọng bao nhiêu thì sau lại ghét bấy nhiêu. Chúa càng ghét, Quỳnh càng trêu tợn.

      Một lần, chúa sai lính tới kéo đổ nhà Quỳnh. Thấy lính đến Quỳnh bảo:

      - Chúa sai các anh đến kéo đổ nhà ta, các anh cứ làm, nhưng không được reo, cười, ai mà reo cười ta cắt lưỡi.

      Ở đời, hễ kéo nặng thì phải reo hò, không dô ta, hò khoan sao mà kéo nổi? Bọn lính
đành chịu thua về trình báo lại. Lần khác chúa sai bọn lính đến ỉa vào vườn nhà Quỳnh, Quỳnh thản nhiên cầm dao ra bảo:

      - Chúa sai các anh đến ỉa thì cứ ỉa nhưng ta cấm đái. Thằng nào đái thì dao đây, ta cắt.... Ngay!

      Ỉa ai không đái bao giờ?

     Bọn lính lại phải về tâu lại. Chúa truyền cho chúng mang gáo dừa theo và đái vào đó. Quỳnh đành chịu thua nhưng vẫn nghĩ cách chơi lại chúa. Một tháng sau, Quỳnh ra chợ, thấy người ta bán cải tốt, liền mua thật nhiều về, mang lên biếu chúa. Chúa thấy cải ngon, sai đầu bếp nấu canh, và quên chuyện cũ liền hỏi Quỳnh cải đâu mà ngon vậy. Quỳnh thưa ngay:

      - Dạ, đó là cải nhà trồng. Trước nó không tốt lắm nhưng từ khi chúa sai lính "Bón phân" vườn nhà thần, nên nó tốt tươi như vật. Cây nhà lá vườn thôi, thần mới dám dâng cho chúa xơi!